Change is the end result of all true learning

Set your target and keep trying until you reach it.

Genius is one percent inspiration and ninety-nine percent perspiration

Knows your limits, but never stop trying to exceed them.

This is default featured slide 3 title

A winner never stops trying.

Where there is a will, there is a way

On the way to success, there is no trace of lazy men.

Nothing is too small to know, and nothing too big to attempt

Nobody is bored when he is trying to make something that is beautiful, or to discover something that is true..

Tuesday, May 16, 2017

NHỮNG MẪU CÂU GIAO TIẾP HÀNG NGÀY BẰNG TIẾNG ANH


  1. Say cheese! —-> Cười lên nào ! (Khi chụp hình)
  2. Be good ! —-> Ngoan nhá! (Nói với trẻ con)
  3. Bottom up! —-> 100% nào! (Khi…đối ẩm)
  4. Me? Not likely! —-> Tao hả? Không đời nào!
  5. Scratch one’s head: —-> Nghĩ muốn nát óc
  6. Take it or leave it! —-> Chịu thì lấy, không chịu thì thôi!
  7. Hell with haggling! —-> Thấy kệ nó!
  8. Mark my words! —-> Nhớ lời tao đó!
  9. Bored to death! —-> Chán chết!
  10. What a relief! —-> Đỡ quá!
  11. Enjoy your meal! —-> Ăn ngon miệng nhá!
  12. Go to hell! —-> Đi chết đi! (Đừng có nói câu này nhiều nha!)
  13. It serves you right! —-> Đáng đời mày!
  14. The more, the merrier! —-> Càng đông càng vui (Especially when you’re holding a party)
  15. Beggars can’t be choosers! —-> ăn mày còn đòi xôi gấc
  16. Boys will be boys! —-> Nó chỉ là trẻ con thôi mà!
  17. Good job!= well done! —-> Làm tốt lắm!
  18. Go hell! —-> chết đi, đồ quỷ tha ma bắt (những câu kiểu này nên biết chỉ để biết thôi nhé! đừng lạm dụng)
  19. Just for fun! —-> Cho vui thôi
  20. Try your best! —-> Cố gắng lên (câu này chắc ai cũng biết)
  21. Make some noise! —-> Sôi nổi lên nào!
  22. Congratulations! —-> Chúc mừng !
  23. Rain cats and dogs. —-> Mưa tầmtã
  24. Love me love my dog. —-> Yêu em yêu cả đường đi, ghét em ghét cả tông ty họ hàng
  25. Strike it.—-> Trúng quả
  26. Alway the same. —-> Trước sau như một
  27. Hit it off. —-> Tâm đầu ý hợp
  28. Hit or miss. —-> Được chăng hay chớ
  29. Add fuel to the fire. —-> Thêm dầu vào lửa
  30. To eat well and can dress beautyfully. —-> Ăn trắng mặc trơn
  31. Don’t mention it! = You’re welcome = That’s allright! = Not at all. —-> Không có chi
  32. Just kidding. —-> Chỉ đùa thôi
  33. No, not a bit. —-> Không chẳng có gì
  34. Nothing particular! —-> Không có gì đặc biệt cả
  35. After you. —-> Bạn trước đi
  36. Have I got your word on that? —-> Tôi có nên tin vào lời hứa của anh không?
  37. The same as usual! —-> Giống như mọi khi
  38. Almost! —-> Gần xong rồi
  39. You ‘ll have to step on it —-> Bạn phải đi ngay
  40. I’m in a hurry. —-> Tôi đang bận
  41. What the hell is going on? —-> Chuyện quái quỷ gì đang diễn ra vậy?
  42. Sorry for bothering! —-> Xin lỗi vì đã làm phiền
  43. Give me a certain time! —-> Cho mình thêm thời gian
  44. Prorincial! —-> Sến
  45. Decourages me much! —-> Làm nản lòng
  46. It’s a kind of once-in-life! —-> Cơ hội ngàn năm có một
  47. Out of sight out of might! —-> Xa mặt cách lòng
  48. The God knows! —-> Chúa mới biết được
  49. Women love throught ears, while men love throught eyes! —-> Con gái yêu bằng tai, con trai yêu bằng mắt.
  50. Poor you/me/him/her…! —-> tội nghiệp mày/tao/thằng đó/ con đó
  51. Go along with you. —-> Cút đi
  52. Let me see. —-> Để tôi xem đã/ Để tôi suy nghĩ đã
  53. Quên nó đi! (Đủ rồi đấy!) —-> Forget it! (I’ve had enough!)
  54. Bạn đi chơi có vui không? —-> Are you having a good time?
  55. Ngồi nhé. —-> Scoot over
  56. Bạn đã có hứng chưa? (Bạn cảm thấy thích chưa?) —-> Are you in the mood?
  57. Mấy giờ bạn phải về? —-> What time is your curfew?
  58. Chuyện đó còn tùy —-> It depends
  59. Nếu chán, tôi sẽ về (nhà) —-> If it gets boring, I’ll go (home)
  60. Tùy bạn thôi —-> It’s up to you
  61. Cái gì cũng được —-> Anything’s fine
  62. Cái nào cũng tốt —-> Either will do.
  63. Tôi sẽ chở bạn về —-> I’ll take you home
  64. Bạn thấy việc đó có được không? —-> How does that sound to you?
  65. Dạo này mọi việc vẫn tốt hả? —-> Are you doing okay?
  66. Làm ơn chờ máy (điện thoại) —-> Hold on, please
  67. Xin hãy ở nhà —> Please be home
  68. Gửi lời chào của anh tới bạn của em —> Say hello to your friends for me.
  69. Tiếc quá! —-> What a pity!
  70. Quá tệ —> Too bad!
  71. Nhiều rủi ro quá! —-> It’s risky!
  72. Cố gắng đi! —-> Go for it!
  73. Vui lên đi! —-> Cheer up!
  74. Bình tĩnh nào! —-> Calm down!
  75. Tuyệt quá —-> Awesome
  76. Kỳ quái —-> Weird
  77. Đừng hiểu sai ý tôi —-> Don’t get me wrong
  78. Chuyện đã qua rồi —-> It’s over
  79. Sounds fun! Let’s give it a try! —-> Nghe có vẻ hay đấy, ta thử nó (vật)xem sao
  80. Nothing’s happened yet —-> Chả thấy gì xảy ra cả
  81. That’s strange! —-> Lạ thật
  82. I’m in nomood for … —-> Tôi không còn tâm trạng nào để mà … đâu
  83. Here comes everybody else —> Mọi người đã tới nơi rồi kìa
  84. What nonsense! —-> Thật là ngớ ngẩn!
  85. Suit yourself —-> Tuỳ bạn thôi
  86. What a thrill! —-> Thật là li kì
  87. As long as you’re here, could you … —-> Chừng nào bạn còn ở đây, phiền bạn …
  88. I’m on my way home —-> Tội đang trên đường về nhà
  89. About a (third) as strong as usual —-> Chỉ khoảng (1/3) so với mọi khi(nói về chất lượng)
  90. What on earth is this? —-> Cái quái gì thế này?
  91. What a dope! —-> Thật là nực cười!
  92. What a miserable guy! —-> Thật là thảm hại
  93. You haven’t changed a bit! —-> Trông ông vẫn còn phong độ chán!
  94. I’ll show it off to everybody —-> Để tôi đem nó đi khoe với mọi người(đồ vật)
  95. You played a prank on me. Wait! —-> Ông dám đùa với tui à. Đứng lại mau!
  96. Enough is enough! —-> Đủ rồi đấy nhé!
  97. Let’s see which of us can hold out longer —-> Để xem ai chịu ai nhé
  98. Your jokes are always witty —-> Anh đùa dí dỏm thật đấy
  99. Life is tough! —-> Cuộc sống thật là phức tạp ^^
  100. No matter what, … —-> Bằng mọi giá, …
  101. What a piece of work! —-> Thật là chán cho ông quá! (hoặc thật là một kẻ vô phương cứu chữa)
  102. What I’m going to take! —-> Nặng quá, không xách nổi nữa
  103. Please help yourself —-> Bạn cứ tự nhiên
  104. Just sit here, … —-> Cứ như thế này mãi thì …
  105. No means no! —-> Đã bảo không là không!
  106. Có chuyện gì vậy? —-> What’s up?
  107. How’s it going? —-> Dạo này ra sao rồi?
  108. What have you been doing?  —-> Dạo này đang làm gì?
  109. Không có gì mới cả —-> Nothing much
  110. Bạn đang lo lắng gì vậy? —-> What’s on your mind?
  111. Tôi chỉ nghĩ linh tinh thôi —-> I was just thinking
  112. Tôi chỉ đãng trí đôi chút thôi —-> I was just daydreaming
  113. Không phải là chuyện của bạn —-> It’s none of your business
  114. Vậy hã? —-> Is that so?
  115. Làm thế nào vậy? —-> How come?
  116. Chắc chắn rồi! —-> Absolutely!
  117. Quá đúng! —-> Definitely!
  118. Dĩ nhiên! —-> Of course!
  119. Chắc chắn mà —-> You better believe it!
  120. Tôi đoán vậy —-> I guess so
  121. Làm sao mà biết được —-> There’s no way to know.
  122. Tôi không thể nói chắc —> I can’t say for sure ( I don’t know)
  123. Chuyện này khó tin quá! —-> This is too good to be true!
  124. Thôi đi (đừng đùa nữa) —-> No way! ( Stop joking!)
  125. Tôi hiểu rồi —-> I got it
  126. Quá đúng! —-> Right on! (Great!)
  127. Tôi thành công rồi! —-> I did it!
  128. Có rảnh không? —-> Got a minute?
  129. Đến khi nào? —-> ‘Til when?
  130. Vào khoảng thời gian nào? —-> About when?
  131. Sẽ không mất nhiều thời gian đâu —-> I won’t take but a minute
  132. Hãy nói lớn lên —-> Speak up
  133. Có thấy Melissa không? —-> Seen Melissa?
  134. Thế là ta lại gặp nhau phải không? —-> So we’ve met again, eh?
  135. Đến đây —-> Come here
  136. Ghé chơi —-> Come over
  137. Đừng đi vội —-> Don’t go yet
  138. Xin nhường đi trước. Tôi xin đi sau —-> Please go first. After you
  139. Cám ơn đã nhường đường —-> Thanks for letting me go first
  140. Thật là nhẹ nhõm —-> What a relief
  141. What the hell are you doing? —-> Anh đang làm cái quái gì thế kia?
  142. Bạn đúng là cứu tinh.Tôi biết mình có thể trông cậy vào bạn mà —-> You’re a life saver. I know I can count on you.
  143. Đừng có giả vờ khờ khạo! —-> Get your head out of your ass!
  144. Xạo quá! —-> That’s a lie!
  145. Làm theo lời tôi —-> Do as I say
  146. Đủ rồi đó! —-> This is the limit! (No more, please!)
  147. Hãy giải thích cho tôi tại sao —-> Explainto me whyAsk for it! —-> Tự mình làm thì tự mình chịu đi!
  148. … In the nick of time: —-> … thật là đúng lúc
  149. No litter —-> Cấm vất rác
  150. Go for it! —-> Cứ liều thử đi
  151. Yours! As if you didn’t know —-> của you chứ ai, cứ giả bộ không biết.
  152. What a jerk! —-> thật là đáng ghét
  153. No business is a success from the beginning —-> vạn sự khởi đầu nan
  154. What? How dare you say such a thing to me —-> Cái gì, …mài dám nói thế với tau à
  155. How cute! —-> Ngộ ngĩnh, dễ thương quá!
  156. None of your business! —-> Không phải việc của bạn
  157. Don’t stick your nose into this —-> đừng dính mũi vào việc này
  158. Don’t peep! —–> đừng nhìn lén!
  159. What I’m going to do if…. —-> Làm sao đây nếu …
  160. Stop it right a way! —-> Có thôi ngay đi không
  161. A wise guy, eh?! —-> Á à… thằng này láo
  162. You’d better stop dawdling —-> Bạn tốt hơn hết là không nên la cà.

Monday, May 15, 2017

TRUYỆN NGẮN SONG NGỮ ANH – VIỆT: LOVE STORIES


Tình yêu là thứ tình cảm ngọt ngào, lãng mạn và không có biên giới. Nó giúp xóa nhòa đi khoảng cách về địa lý của hai người yêu nhau ngay cả khi họ ở cách nhau đến nửa vòng trái đất. Trong bài này, chúng ta cùng học tiếng Anh qua hai câu chuyện tình yêu cảm động và ý nghĩa nhé! 
1. Love story-Câu chuyện tình yêu
One day, his wife, who had very long hair asked him to buy her a comb for her hair to grow well and to be well-groomed.
Một ngày nọ, người vợ có mái tóc dài bảo với chồng mình hãy mua cho bà một chiếc lược để tóc của bà đẹp hơn, gọn gàng hơn.
The man felt very sorry and said no. He explained that he did not even have enough money to fix the strap of his watch he had just broken. She did not insist on her request.
Người chồng rất lấy làm tiếc và từ chối. Ông giải thích rằng hiện tại thậm chí ông còn không có đủ tiền để sửa chiếc dây đồng hồ vừa bị hỏng. Người vợ không đòi hỏi chồng mình nữa.
The man went to work and passed by a watch shop, sold his damaged watch at a low price and went to buy a comb for his wife.
Người chồng đi làm, ngang qua một cửa hàng đồng hồ, ông quyết định bán chiếc đồng hồ hỏng của mình với giá rẻ, và mua một chiếc lược cho vợ.
He came home in the evening with the comb in his hand ready to give to his wife.
Buổi tối, ông trở về nhà với chiếc lược tặng vợ trên tay.
He was surprised when he saw his wife with a very short hair cut.
Ông đã vô cùng sửng sốt khi nhìn thấy tóc vợ đã ngắn.
She had sold her hair and was holding a new watch band.
Bà đã bán tóc của mình và đang cầm một sợi dây đồng hồ mới.
Tears flowed simultaneously from their eyes, not for the futility of their actions, but for the reciprocity of their love.
Những giọt nước mắt cùng rơi trên gương mặt họ, không phải vì những việc họ làm là vô ích, mà vì tình yêu thương hai người dành cho nhau.
MORAL: To love is nothing, to be loved is something but to love and to be loved by the one you love, that is EVERYTHING. Never take love for granted.
==> Yêu thôi chưa là gì cả, được yêu đã là một chút gì đó, nhưng yêu và được người mình yêu thương đáp trả, đó mới là tất cả. Tình yêu không phải là điều dĩ nhiên, mà là những nỗ lực từ cả hai phía.
Truyện song ngữ Anh Việt

2. The salty coffee-Cà phê muối
He met her at a party. She was so outstanding, with many boys around her, while he was so normal, with nobody paying attention to him.
Chàng trai gặp cô gái tại một buổi tiệc. Cô gái thật đẹp, và nhiều chàng trai vây quanh trong khi chàng bình thường và không ai để ý.
At the end of the party, he invited her to have coffee with him. She was surprised, but due to being polite, she agreed. They sat in a nice coffee shop. He was too nervous to say anything, and she felt uncomfortable, thinking, “Please let me go home.”
Cuối buổi tiệc, chàng trai mời cô gái đi uống café. Cô gái ngạc nhiên, nhưng vì lịch sự, nên đồng ý. Họ ngồi trong một quán café đẹp. Chàng bối rối không biết nói gì, còn cô gái cảm thấy không thoải mái và suy nghĩ, “Làm ơn cho tôi về nhà.”
Suddenly he asked the waiter, “Would you please give me some salt? I’d like to put it in my coffee.”
Đột nhiên chàng trai hỏi người phục vụ, “Xin cho tôi một ít muối? Tôi muốn cho vào café.”
Everybody stared at him—so strange! His face turned red, but, still, he put the salt in his coffee and drank it.
Mọi người nhìn chàng trai – thật lạ! Chàng đỏ mặt nhưng vẫn để muối vào café và uống.
She asked him curiously, “Why do you have this hobby?”
Nàng hỏi một cách tò mò, “Tại sao anh có sở thích này?”
He replied, “When I was a little boy, I was living near the sea. I liked playing in the sea, and I could feel the taste of the sea, just like the taste of the salty coffee. Now every time I have the salty coffee, I always think of my childhood. I miss my hometown so much. I miss my parents who are still living there.” While saying that tears filled his eyes. She was deeply touched. That’s his true feeling, from the bottom of his heart. A man who can tell out his homesickness, he must be a man who loves home, cares about home, and has responsibility of home. Then she also started to speak, about her faraway hometown, her childhood, her family. That was a really nice talk, also a beautiful beginning of their story.
Chàng trả lời, “Khi còn bé, anh sống gần biển. Anh thích chơi trên biển và cảm nhận hương vị biển, giống như thưởng thức café muối. Bây giờ mỗi lần uống café muối, anh luôn nghĩ về tuổi thơ. Anh nhớ quê hương mình rất nhiều. Anh cũng nhớ bố mẹ đang sống ở đó.” Trong khi nói, nước mắt chàng đầy khóe. Cô gái rất cảm động. Đấy là cảm xúc thật sự từ tận đáy lòng của chàng trai. Một người đàn ông có thể kể ra nỗi nhớ nhà hẳn anh ta phải là người yêu, quan tâm và có trách nhiệm với gia đình. Vậy là cô ấy bắt đầu trò chuyện về quê hương, về tuổi thơ và gia đình cô ấy. Đó là cuộc nói chuyện thật sự đẹp và cũng bắt đầu cho một chuyện tình đẹp.
They continued to date. She found that actually he was a man who meets all her demands; he was kind-hearted, warm and careful. He was such a good person but she almost missed him! Thanks to the salty coffee! Then the story was just like every beautiful love story, the princess married the prince, then they were living a happy life… And, every time she made coffee for him, she put some salt in the coffee.
Họ tiếp tục hẹn họ. Cô gái thấy thật sự chàng trai là người đáp ứng đầy đủ yêu cầu của mình; tốt bụng, nồng nhiệt và chu đáo. Anh ta là người tốt mà bấy lâu cô gái thiếu thốn. Nhờ vào ly café muối! Đến đây câu chuyện giống như mọi chuyện tình đẹp khác, công chúa kết hôn với hoàng tử, sau đó họ sống hạnh phúc… Và mỗi lần pha café cho chồng cô ấy để vào một ít muối.
After 40 years, he passed away, leaving her a letter which said, “My dearest, please forgive my whole life lie. This was the only lie I said to you—the salty coffee.”
40 năm sau, người chồng mất, để lại một lá thư “Em yêu, hãy tha thứ cho lời nói dối suốt cả cuộc đời anh. Đó là lời nói dối duy nhất mà anh nói với em – cà phê muối.”
“Remember the first time we dated? I was so nervous at that time. Actually I wanted some sugar, but I said salt. It was hard for me to change so I just went ahead.”
“Em nhớ lần đầu tiên chúng ta hẹn hò không? Lúc đó anh rất bối rối. Anh định xin ít đường nhưng anh lại nói thành muối. Thật khó khăn cho anh để thay đổi”
“I tried to tell you the truth many times in my life, but I was too afraid to do that, as I have promised not to lie to you for anything.”
“Anh đã định nói cho em biết sự thật rất nhiều lần, nhưng anh quá sợ để làm điều đó, thế là anh hứa không nói dối em thêm lần nào nữa.”
“Now I’m dying, I’m afraid of nothing so I tell you the truth: I don’t like the salty coffee. What a strange bad taste! But I have had the salty coffee for my whole life!”
“Bây giờ anh không còn, anh không sợ gì vì vậy anh nói cho em biết sự thật: Anh không thích café muối. Hương vị nó thật tệ làm sao! Nhưng anh đã uống café muối suốt cả cuộc đời mình.”
“Since I knew you, I never feel sorry for anything I do for you. Having you with me is my biggest happiness for my whole life. If I can live for a second time, I still want to know you and have you for my whole life, even though I have to drink the salty coffee again.”
“Kể từ khi quen biết em, anh chưa bao giờ cảm thấy hối hận bất cứ thứ gì anh làm cho em. Có em bên cạnh là hạnh phúc lớn nhất của cả cuộc đời anh. Nếu có thể sống lần thứ hai, anh vẫn muốn làm quen em và có em suốt cả cuộc đời, ngay cả anh phải uống cà phê muốn lần nữa.”
Her tears made the letter totally wet.
Nước mắt người vợ làm lá thư hoàn toàn ước.
Someday, someone asked her, “What’s the taste of salty coffee?”
Một hôm, ai đó hỏi, “Hương vị café muối thế nào?”
“It’s sweet,” she replied.
“Nó ngọt lắm”, bà ấy trả lời.
Source: Sưu tầm

Tuesday, May 9, 2017

Cụm động từ với Take - Bring - Get


CẤU TRÚC SO SÁNH CAO HƠN – CAO BẰNG – THẤP HƠN




TRUYỆN NGỤ NGÔN SONG NGỮ

’TIS BETTER TO GIVE-CHO ĐI LÀ ĐIỀU TỐT CẦN LÀM


I knew I was not supposed to be quite so excited. I was too old for that. At age eleven, the oldest and my mom’s “grown up” girl, I had to keep my cool. I was in middle school after all. But every chance I got, when I was alone, I checked each present under the tree. I read every tag and felt every package, guessing at the contents within. I had examined each gift so often that I could tell which present went to which person without even looking at the tags.
Tôi biết lẽ ra mình không nên quá phấn khích như vậy. Tôi không còn trẻ cho việc đó nữa. Lúc tôi mười một tuổi, là con gái lớn trong nhà và cũng là cô gái “mới lớn”của mẹ, tôi đã phải giữ sự bình tĩnh trong mình. Xét cho cùng tôi còn đang học trung học. Nhưng mỗi khi có cơ hội được ngồi một mình, tôi sẽ kiểm tra từng món quà dưới gốc cây. Tôi đọc mỗi nhãn dán, nhìn cách gói quà và đoán xem cái gì ở bên trong. Tôi thường hay kiểm tra từng món quà như vậy cho nên tôi có thể biết món quà nào là của ai mà không cần nhìn vào nhãn dán nữa.
It had been a tough year for my family. Whenever my mom looked over at the tree and scattered presents, she would sigh and warn us, “There won’t be as much for Christmas this year. Try not to be disappointed.” Christmas had traditionally been a time for my parents to spoil us. In years past, the presents would pile up and spill out from under the tree, taking over the living room. I had heard the phrase “giving is better than receiving,” but thought that whoever had said that must have been out of their mind. Getting presents was the whole point! It was the reason I couldn’t get to sleep on Christmas Eve.
Đó là một năm khó khăn với gia đình tôi. Bất cứ khi nào mẹ tôi nhìn cái cây và những món quà rải rác ở đó, bà lại thở dài và báo trước với chúng tôi rằng “Sẽ không có nhiều quà trong mùa giáng sinh năm nay và cố đừng biểu lộ sự thất vọng”. Giáng sinh là thời gian truyền thống mà ba mẹ thưởng cho chúng tôi. Trong những năm trước, các món quà được xếp chồng lên nhau, rơi xuống từ cái cây và đặt trong phòng khách. Tôi đã từng nghe ” Cho đi tốt hơn là nhận được” nhưng tôi đã nghĩ rằng ai nói ra điều đó chắc hẳn họ mất trí rồi. Toàn bộ ý tưởng của tôi là nhận được quà. Đó là lí do tôi không thể ngủ vào đêm Giáng sinh.
On Christmas morning, we eagerly waited in the hallway until Dad told us everything was ready. We rushed into the living room and let the wrapping paper fly. We made weak attempts to wait and watch while other family members opened their presents, but as the time passed we lost our self-control.
Vào buổi sáng Giáng sinh hôm ấy, chúng tôi háo hức chờ đợi ở hành lang cho đến khi ba nói với chúng tôi mọi thứ đã sẵn sàng. Chúng tôi vội vàng chạy vào phòng khách và xé tung giấy gói quà. Chúng tôi ráng chờ và quan sát khi các thành viên khác trong gia đình mở quà, nhưng khi thời gian trôi qua chúng tôi đã mất kiểm soát bản thân.
“Here’s another one for you,” said Mom as she handed me a package. I looked at it, confused. Having spent so much time examining the presents before Christmas, I recognized this one. But it had not been mine. It was my mom’s. A new label had been put on it, with my name written in my mother’s handwriting.
” Đây là món quà khác cho con” Mẹ nói khi bà đưa tôi một gói quà. Tôi nhìn nó và bối rối. Tôi đã nhận ra món quà ấy vì trước giáng sinh, tôi đã dành nhiều thời gian xem chúng. Tuy nhiên, nó không phải là của tôi. Đó là của mẹ. Một nhãn mới đã được dán lên gói quà và tên tôi được viết lên trên đó trên bằng chữ của mẹ.
“Mom, I can’t…”
Tôi nói :” Mẹ ơi, con không thể …”
I was stopped by my mother’s eager, joyful look—a look I could not really understand. “Let’s see what it is, honey. Hurry and open it.”
Tôi khựng lại bởi khuôn mặt vui sướng háo hức của mẹ, một khuôn mặt mà tôi thực sự còn đang thấy khác lạ.” Để xem nó là gì nào con yêu. Nhanh mở nó ra đi con”
It was a blow dryer. Though this may seem but a simple gift, to me it was so much more. Being an eleven-year-old girl, I was stunned. In my world, where receiving outweighed giving by light years, my mom’s act of selflessness was incomprehensible. It was a huge act. Tears filled my eyes and I thought in disbelief about how much my mom must love me to give up her Christmas so I could have a few more presents.
Đó là một máy sấy tóc. Mặc dù nó có thể chỉ là món quà đơn giản, nhưng đối với tôi nó còn hơn thế nữa. Là cô bé 11 tuổi, tôi đã ngạc nhiên vô cùng. Trong thế giới của mình, tôi đã nhận được sự cho đi trong một khoảng thời gian dài, hành động vị tha của mẹ tôi thật khó hiểu. Đó là một hành động lớn lao. Tôi rơi nước mắt và đã từng nghĩ trong sự hoài nghi về việc mẹ phải yêu tôi nhiều đến dường nào mới từ bỏ món quà giáng sinh của bà để tôi có thêm vài món quà nữa.
I have always remembered that Christmas fondly. It had such an impact on me. As an adult with children in my life whom I adore, I can now understand my mom’s actions. I see how she was not “giving up her Christmas” as I had thought, but was finding an even greater joy in her Christmas because giving truly is better than receiving. My mom’s simple act meant the world to me.

Monday, May 1, 2017

HOW TO TIE A TIE


Step 1 : 


Drape the tie around your neck. With your collar up and your shirt fully buttoned, place the tie around your shoulders. Hang the wider end of the tie on your right side, with the narrow end about 12 inches (30 cm) higher on the left.
Vòng cà vạt qua cổ. Bẻ bâu áo lên và gài nút, đặt cà vạt lên. Đặt phần đầu rộng hơn của dây buộc bên phải, với đầu hẹp khoảng 12 inch (30 cm) cao hơn bên trái.
Step 2 :

Cross the wide end over the narrow end. Bring the wide end to the left side of your body, over the narrow end. Hold the two pieces of cloth together with your left hand, near your neck.
Đặt chéo đầu rộng lên đầu . Kéo phần đầu rộng vào phía bên trái, đặt trên đầu . Dùng tay trái giữ hai đầu gần phía cổ
Step 3 :

Loop the wide end under the narrow end. Let go with your right hand. Tuck it underneath the narrow end, grab the wide end, and pull it back through to your right side.
Dùng tay phải vòng đầu rộng dưới đầu . Nhét dưới đầu hẹp, kéo trở lại đặt qua bên phải
Step 4 : 

Loop the wide end back over again. Cross it over the narrow end one more time, at the same point where your left hand is holding the knot together. The front of the tie should be facing forward again (so the seam is hidden).
Vòng đầu rộng lại. Đặt chéo nó qua đầu hẹp một lần nữa, tại cùng một điểm mà tay trái của bạn đang giữ nút kết hợp với nhau. Mặt trước của dây buộc phải được hướng về phía trước một lần nữa (vì vậy đường may bị ẩn).
Step 5 :

Pull the wide end up through the neck loop. Fold the tip of the wide end under itself and pull up through the neck loop.
Kéo đầu rộng lên qua vòng cổ. Gấp đầu của đầu rộng và kéo lên qua vòng cổ
Step 6 :

Insert the wide end down through the front knot. You should have a horizontal knot across the front of your tie. Hold this knot open with your finger and carefully insert the wide end.
Lắp đầu rộng qua nút trước. Bạn nên có một nút ngang qua mặt trước cà vạt. Giữ nút này mở bằng ngón tay và cẩn thận chèn đầu rộng vào
Step 7:

Tighten the knot. Hold the narrow end and slide the front knot up to tighten the tie. Make sure your tie is straight and the length is appropriate. Squeeze the sides of the knot gently to create a dimple just below it.
Thắt chặt nút. Giữ phần đầu hẹp và trượt nút trước để thắt cà vạt. Đảm bảo cà vạt thẳng và chiều dài thích hợp. Vặn các cạnh của nút nhẹ nhàng tạo ra một chỗ lõm nhỏ ngay dưới nó.